Các đường trung bình Di động là gì?

#1
Đường trung bình Di động là một trong các công cụ cơ bản của phân tích kỹ thuật. Nó được sử dụng để trung bình hóa hay “san bằng” các biến động giá cả bằng cách loại trừ các biến động trong ngắn hạn. Với các đường trung bình di động được xác định và ứng dụng hợp lý, bạn sẽ cảm thấy việc xác định xu hướng thị trường cũng như dự đoán khả năng biến động và thay đổi của giá cả trở nên dễ dàng hơn. Các đường trung bình di động cũng được sử dụng để “làm mượt” các biến động của giá trên một biểu đồ. Chúng giúp bạn đánh giá thực tế thị trường một cách khách quan bằng việc loại bỏ các biến động nhỏ lẻ và hỗn loạn – điều có thể làm bạn bị đánh lạc hướng khỏi các xu hướng sẽ chiếm ưu thế trong dài hạn. Việc phân tích các đường trung bình di động giúp khám phá xu hướng dài hạn của thị trường và các động lực của giá cả, cũng có nghĩa là xem xét xem chúng sẽ tăng hay giảm với tốc độ như thế nào.

Dạng đầu tiên của các đường trung bình di động là Đường trung bình Di động Đơn giản (Simple Moving Average – SMA). Nếu mức giá vượt khỏi đường SMA lên trên thì có nghĩa là thị trường đang trong xu hướng đi lên, nếu mức giá vượt khỏi đường SMA xuống dưới thì có nghĩa là thị trường đang trong xu hướng đi xuống (bearish).

Công thức xác định một đường trung bình di động đơn giản là một phép toán số học để tính giá trị trung bình: tổng tất cả các mức giá (giá đóng cửa hoặc giá cao nhất hoặc giá thấp nhất) trong n giai đoạn chia cho số giai đoạn đó:

SMAn = (Giá 1 + Giá 2 + Giá 3 + … + Giá n)/n
n – số giai đoạn

Ngay khi một mức giá mới xuất hiện, SMA sẽ được tính toán lại bằng cách sử dụng thuật toán trên. Các giá trị trong quá khứ và hiện tại được đánh dấu trên biểu đồ và được nối với nhau bằng một đường thể hiện mức giá trung bình trong khoảng thời gian mà bạn đã chọn. Số giai đoạn trên một đường trung bình di động càng nhiều thì đường này sẽ càng mềm mại hơn và mỗi mức giá sẽ ít tác động hơn đến việc tạo thành hình dạng của đường trung bình di động. Nếu đường này được sử dụng trên một biểu đồ dài hạn thì bạn có thể quan sát thấy là thông thường, mức giá sẽ nằm trên hoặc dưới đường trung bình di động và đôi khi cắt cả qua nó.

Các mức giá và cách tính toán sau đây có thể được sử dụng để tính toán một đường trung bình di động:
  • Giá đóng cửa trong một giai đoạn;
  • Trung bình của giá cao nhất và giá thấp nhất trong một giai đoạn (H+L)/2;
  • Trung bình của giá cao nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa trong một giai đoạn (H+L+C)/3;
  • Trung bình của giá cao nhất, giá thấp nhất, giá đóng cửa và giá mở cửa trong một giai đoạn (H+L+C+O)/4;
  • Trung bình của giá cao nhất, giá thấp nhất và hai lần giá đóng cửa trong một giai đoạn (H+L+C+C)/4.
Thông thường, các nhà kinh doanh chú ý nhiều nhất đến mức giá đóng cửa hàng ngày (giá đóng cửa thường được sử dụng để tính toán đường trung bình di động nói chung). Mức giá này được dùng để tính toán đường trung bình di động trên các biểu đồ hàng ngày.

Việc chọn lựa số giai đoạn cho một đường trung bình di động cũng rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến tính hiệu quả khi sử dụng. Trên thực tế, người ta hay sử dụng các giai đoạn sau nhiều nhất:
  • Rất ngắn (đường trung bình di động trong 5-13 ngày)
  • Ngắn (đường trung bình di động trong 14-25 ngày)
  • Trung bình ngắn hạn (đường trung bình di động trong 26-49 ngày)
  • Trung bình (đường trung bình di động trong 50-100 ngày)
  • Dài hạn (đường trung bình di động trong 100- 200 ngày)
Số lượng giai đoạn thích hợp nhất còn phụ thuộc vào loại hình thị trường hay các công cụ tài chính mà bạn lựa chọn. Các con số nêu trên sẽ thích hợp nhất với thị trường chứng khoán, còn với thị trường Ngoại hối thì bạn nên sử dụng đường trung bình di động 14 giai đoạn.

Đường trung bình di động đơn giản đã được các nhà kinh doanh trên toàn thế giới sử dụng từ lâu bởi nó rất dễ tính toán và thể hiện trên một biểu đồ mà không cần đến sự trợ giúp của máy tính. Các đường trung bình di động phản ánh xu hướng hiện tại của thị trường, nhưng mặt khác, chúng không thể được sử dụng để phân tích sức mạnh tương đối của biến động đó. Đây là nhược điểm cơ bản của công cụ này.

Thêm vào đó, các đường trung bình di động là một chỉ số trễ pha (lagging indicator), bởi chúng được xây dựng hoàn toàn dựa trên các dữ liệu trong quá khứ. Điều này có nghĩa là chúng không thể chỉ ra hoặc dự báo một sự biến động trên thị trường cho đến khi sự thay đổi này thực sự diễn ra. Đường trung bình di động bao quát một giai đoạn càng dài thì càng ít bị tác động bởi các thông tin mới trên thị trường. Nếu bạn lấy đường trung bình di động trong một giai đoạn ngắn hơn thì khả năng nó đưa ra các tín hiệu sai lệch sẽ cao hơn bởi mức giá thực tế sẽ thường xuyên cắt qua đường này. Do đó, nếu thị trường đang trải qua nhiều biến động thì bạn nên chọn các đường trung bình di động trong một giai đoạn đủ dài và nếu thị trường đang có xu hướng ổn định thì bạn có thể chọn các đường này trong một giai đoạn ngắn hơn. Tuy nhiên, để có thể lựa chọn độ dài của quãng thời gian sao cho phù hợp nhất, một nhà kinh doanh còn cần chú ý cả đến các đặc điểm của thị trường và chiến lược kinh doanh của bản thân.

Các đường trung bình di động đặc biệt được tính toán dựa trên các trọng số tương ứng, điều này khiến trọng số của mức giá trong các giai đoạn trước đây được giảm bớt trong khi trọng số của mức giá trong các giai đoạn gần đây được tăng lên khi nhìn vào kết quả tính toán cuối cùng:
  • Đường trung bình Di động theo Trọng số (Weighted Moving Average – WMA);
  • Đường trung bình Di động theo Hàm mũ (Exponential Moving Average – EMA).
Nhược điểm cơ bản của đường trung bình di động đơn giản là tất cả các mức giá đều có trọng số như nhau khi đưa vào công thức tính toán để cho ra kết quả cuối cùng mà không tính đến khoảng cách giữa thời điểm chúng xuất hiện và điều kiện thị trường hiện tại. Các đường trung bình di động theo trọng số đã loại bỏ được nhược điểm này khi giá trị theo thời gian được đưa vào nhằm tăng thêm trọng số cho các dữ liệu gần nhất. Ví dụ, đường trung bình di động theo trọng số cho giai đoạn 4 ngày được tính toán như sau:

WMA4 = (0,1 × Price 1 + 0,2 × Price 2 + 0,3 × Price 3 + 0,4 × Price 4) / 4
Các đường trung bình di động đơn giản và theo trọng số phản ảnh các biến động giá trong một số giai đoạn đã được lựa chọn. Đường trung bình di động theo hàm mũ thậm chí còn tăng trọng số của các dữ liệu gần nhất lên cao hơn và giảm trọng số của các dữ liệu tại các giai đoạn trước đây xuống thấp hơn nữa. Ví dụ, đường trung bình di động theo hàm mũ cho giai đoạn 5 ngày sẽ không chỉ bao gồm các mức giá trong 5 ngày đã chọn mà còn cả các mức giá ở giai đoạn trước đó, tất nhiên là sau khi đã tăng trọng số cho các dữ liệu gần nhất. Nguyên tắc cấp số nhân được sử dụng để tính toán đường trung bình di động theo hàm mũ. Điều này có nghĩa là mức giá càng xa thì ảnh hưởng của nó lên EMA càng ít và với các mức giá xa nhất thì ảnh hưởng này gần như bằng không. Công thức tính EMA tương đối phức tạp và thường đòi hỏi phải có sự trợ giúp của máy tính:

EMA = Giá cuối cùng K + giá trị EMA trước đây (1-K)
K = 2 / n + 1
N – số giai đoạn của EMA
K – giá trị của trọng số

Sự chênh lệch giữa giá trị của các đường trung bình di động khác nhau cho cùng một giai đoạn là tương đối nhỏ, nhưng điều chúng ta có thể thấy là một đường trung bình di động đơn giản sẽ trễ pha so với một đường trung bình di động theo hàm mũ ở mức độ phản ứng với các dữ liệu thông tin mới, trong khi đường trung bình di động theo trọng số có khả năng phản ứng nhanh nhất với các thay đổi trên thị trường.

Người ta cũng đã cố gắng thử sử dụng các công thức tính toán phức tạp hơn cho các đường trung bình trong phân tích kỹ thuật, nhưng thực tế cho thấy SMA là có hiệu quả nhất. Phần lớn các phần mềm giao dịch sử dụng đường trung bình theo hàm mũ để tạo ra các chỉ số. Dẫu vậy, việc sử dụng đường nào sẽ tùy thuộc vào chiến lược giao dịch mà nhà kinh doanh lựa chọn. Mục đích chính của các đường trung bình di động là làm mềm mại và trung bình hóa các biến động của giá cả.

Các đường trung bình di động sử dụng cho biểu đồ H1 EUR/USD

sfdg.PNG
 
Top