Phân tích và nhận định thị trường chứng khoán việt nam

trandainam

New Member
Tham gia
22/7/18
Bài viết
1
Thích
0
Điểm
1
Tuổi
26
#1
Phân tích và nhận định thị trường chứng khoán việt nam hiện nay, cập nhật thường xuyên các thông tin, các báo cáo mới nhất. Mời mọi người cùng kham khảo phân tích và nhận định thị trường chứng khoán việt nam của tôi và của các thành viên trong diễn đàn Forex Vua. Trước tiên tôi xin chia sẻ phân tích và nhận định thị trường chứng khoán việt nam quý 3 năm 2018.

  • Báo cáo kinh tế vĩ mô quý II/2018
  • Nhận định thị trường
  • Khuyến nghị đầu tư: nhóm ngân hàng, nhóm ngành dầu khí và năng lượng và nhóm cổ phiếu tăng trưởng

1. BÁO CÁO KINH TẾ VĨ MÔ QUÝ II/2018.

  • Kinh tế thế giới có những dấu hiệu chững lại trong Quý 2/2018. Nền kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng tốt với những tín hiệu tích cực từ thị trường lao động, khiến Fed đã quyết định tăng lãi suất lần thứ hai trong năm vào tháng Sáu. Tại châu Âu, tăng trưởng các nước EU chậm lại, nền kinh tế Anh tiếp tục gặp nhiều khó khăn, với đầu tư cố định giảm, tăng trưởng xuất khẩu chậm lại do sự suy yếu của đồng Bảng Anh. Tại châu Á, kinh tế Nhật Bản chững lại sau hai năm tăng trưởng liên tiếp. Kinh tế Trung Quốc duy trì tăng trưởng ổn định và vượt kỳ vọng của thị trường. Các nước ASEAN đều duy trì tăng trưởng tích cực, trong khi các nước BRICS có sự phân hóa về tăng trưởng.
  • Trong nước, Quý 2 chứng kiến mức tăng trưởng tích cực, 6,79% (yoy), mức tăng Quý 2 cao nhất trong 10 năm. Khu vực nông, lâm, thuỷ sản và dịch vụ tiếp tục có sự phục hồi mạnh mẽ. Khu vực công nghiệp và xây dựng cũng tăng trưởng rất cao ở mức 9,07% trong 6 tháng đầu năm. Ngành công nghiệp chế tác tiếp tục là động lực cho cả nền kinh tế. Trong khi đó, ngành khai khoáng đã quay đầu suy giảm, phản ánh tăng trưởng dương trong Quý 1 mang tính thời vụ.
  • Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động cao bất thường trong khi số việc làm mới suy giảm.
  • Lạm phát bật tăng trong Quý 2, đạt mức 4,67% (yoy) vào cuối tháng Sáu, do sự gia tăng của giá thực phẩm và xăng dầu. Trong khi đó, lạm phát lõi giữ mức ổn định 1,37%, phản ánh chính sách tiền tệ thận trọng của NHNN.
  • Thương mại tăng trưởng chậm lại trong Quý 2/2018. Trong khi đó, cán cân thương mại thặng dư quý thứ tư liên tiếp và đạt 1,4 tỷ USD trong Quý 2. Đáng chú ý là Trung Quốc đã lấy lại vị trí đối tác tạo ra nhập siêu lớn nhất với Việt Nam.
  • Cán cân ngân sách thâm hụt trở lại trong Quý 2, cho thấy thặng dư Quý 1 chỉ mang tính tạm thời. Chi thường xuyên tiếp tục ở mức cao trên 70% tổng chi ngân sách, trong khi chi đầu tư phát triển chưa được cải thiện nhiều.
  • Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tính tới hết Quý 2 tăng về giá trị nhưng giảm về lượng so với cùng kỳ năm ngoái, phản ánh mặt bằng giá cả đang phục hồi trong 2018.
  • Đầu tư tư nhân tăng trưởng mạnh nhất trong các thành phần kinh tế. Trong khi đó, vốn FDI đăng ký mới của Quý 2 đạt mức kỷ lục. Nhật Bản là nhà đầu tư số một tại Việt Nam sau 6 tháng đầu năm 2018.
  • Thanh khoản hệ thống dồi dào do tăng trưởng huy động lớn hơn tín dụng, cùng với việc mua vào ngoại tệ của NHNN. Dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng, đạt 63,5 tỷ USD vào cuối Quý 2, ngang với mức khuyến nghị của IMF. Tuy nhiên, dao động mạnh của tỷ giá có thể khiến NHNN phải giảm dự trữ để can thiệp bình ổn thị trường.
  • Thị trường căn hộ trong Quý 2 suy giảm ở cả hai thị trường Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, cả về lượng mở bán mới và lượng bán ra. Rủi ro về khả năng tăng lãi suất trong tương lai gần có thể đẩy thị trường bất động sản vào trạng ảm đạm hơn nữa.

Dự Báo Tỷ Giá 6 Tháng Cuối Năm

  • Tính từ đầu tháng 4/2018, VND mất giá so với USD gần đây (1,6% cho đến nay). Đây là mức giá có thể chấp nhận được khi đồng tiền của các quốc gia khác đã giảm xuống ở mức cao hơn nhiều trong vài tháng qua. VND sẽ không trượt giá mạnh trong 6 tháng cuối năm 2018 và mức trượt giá tối đa có thể là 2%.
  • Vốn FDI đăng ký dồi dào trong 6 tháng đầu năm 2018 lên đến 20.7 tỷ USD. Đồng thời, các thương vụ thoái vốn và bán vốn IPO sẽ tiếp tục duy trì để thu hút nguồn vốn FII
  • Việt Nam có thể sẽ duy trì xuất siêu trong 6 tháng cuối năm 2018, chủ yếu ở các mặt hàng điện tử, thủy sản và dệt may
  • Dự trữ ngoại hối đạt mức 64 tỷ USD giúp NHNN giữ ổn định tỷ giá và tránh các cú sốc tỷ giá
  • Chỉ số PMI tháng 6 đã tăng lên 55,9, mức cao nhất trong 8 năm báo hiệu ngành sản xuất đang được cải thiện nhanh chóng nhờ vào số lượng đơn đặt hàng mới, tổng sản lượng và nhu cầu việc làm
  • Theo Bloomberg, trung vị dự phóng của các tổ chức tài chỉ số USD là 92.4 điểm trong Q4/2018, tức là giảm hơn 2% so với mức hiện tại

Rủi Ro Phải Đối Mặt Trong Quý III/2018

  • Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng phức tạp hơn
  • Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 2 lần và sẽ khiến dòng vốn có khả năng sẽ tiếp tục rút khỏi nhóm thị trường mới nổi
  • Chính sách bảo hộ của Mỹ sẽ khiến xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới khi Mỹ vẫn đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu của thị trường này là 21.5 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm (chiếm tỷ trọng cao nhất so với các khu vực khác)

2. NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG

1.png


2.png


Nếu loại trừ các giao dịch đột biến từ VHM và YEG, khối ngoại vẫn mua ròng ở TTCK Việt Nam là chỉ hơn 2.7 tỷ VND trong 6 tháng đầu năm 2018

Thị Trường Chứng Khoán Đã Đủ Hấp Dẫn ?

Tháng 6 cũng là tháng thứ 5 liên tiếp nhà đầu tư nước ngoài duy trì đà bán ròng trên thị trường khớp lệnh, tuy nhiên quy mô bán ròng đã giảm đáng kể so với 2 tháng trước xuống mức 1.800 tỷ đồng. Nếu tính cả giao dịch thỏa thuận thì khối ngoại tiếp tục mua ròng nhẹ 201 tỷ đồng trong tháng. Thị trường tiếp tục bị bán ròng 1.557 tỷ đồng khớp lệnh trong hai tuần đầu tháng 7 và chỉ mua ròng 117 tỷ đồng thỏa thuận.

Tính chung từ đầu năm, tổng giá trị mua ròng của khối ngoại là 33.876 tỷ đồng, trong đó khối này mua ròng qua kênh thỏa thuận với giá trị 44.558 tỷ đồng nhưng bán ròng 10.681 tỷ đồng khớp lệnh tạo áp lực rất lớn lên tâm lý thị trường.

Hiện tại định giá P/E của thị trường đã giảm xuống 17.2x, tương đương thời điểm trước sóng tăng mạnh kéo dài 6 tháng từ tháng 10/2017. Tuy nhiên, mức định giá này vẫn khá cao so với lịch sử 5 năm gần đây. Trong giai đoạn từ 2012-2017, P/E của VN-Index dao động trong khoảng từ 10.3x – 17.4x, với mức trung bình ở 13.8x.

Định giá của thị trường Việt Nam cũng chưa rẻ hơn nhiều so với các thị trường trong khu vực. Không chỉ chứng khoán Việt Nam, trong năm 2018 thị trường chứng khoán Trung Quốc và Thái Lan cũng lao dốc với mức giảm -23% và -13%, đưa P/E của các thị trường này xuống 13.7x và 16.5x. Thị trường Việt Nam đang giao dịch ở định giá tương đương với Malaysia (17.7x) và thấp hơn thị trường Indonesia (20.6x) và Philippines (18.9x)

Rủi Ro Thị Trường

  • Rủi ro chính trị thế giới và chính sách bảo hộ của Mỹ
  • Tỷ giá tăng mạnh với sự leo thang của USD là dấu hiệu rủi ro đáng kể cho TTCK
  • CPI tăng cũng là dấu hiệu cảnh báo trong dài hạn, nhưng chưa phải là điều đáng ngại trong ngắn và trung hạn

Tâm Điểm Thị Trường Phái Sinh

Trong khi thị trường chứng khoán cơ sở giao dịch ảm đạm, chứng khoán phái sinh tiếp tục lên ngôi và thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư. Thanh khoản thị trường liên tục bứt phá tạo các kỷ lục mới khối lượng 164.872 HĐ trong phiên ngày 6/7, tương đương 14.705 tỷ đồng, gấp 3 lần giao dịch trên thị trường cơ sở. Thị trường phái sinh phát huy lợi thế giúp nhà đầu tư tận dụng được xu hướng giá xuống và giao dịch trong ngày T+0. Thanh khoản thị trường phái sinh tăng là hệ quả của sự thiếu cơ hội đầu tư trên thị trường cơ sở.

Thị Trường Phái Sinh Có Hút Vốn Từ Thị Trường Cơ Sở?

Mặc dù thanh khoản gia tăng, giao dịch trong ngày chiếm đại đa phần các giao dịch phái sinh. Khối lượng giao dịch trong ngày gấp khoảng 10 lần khối lượng mở (OI) cuối ngày. Đây cũng là điểm khác biệt rất lớn giữa thị trường Việt Nam và các thị trường phát triển, nơi khối lượng giao dịch là thiểu số so với khối lượng mở do xu hướng đầu tư mang tính dài hạn hơn.

Cùng với khối lượng giao dịch gia tăng, khối lượng mở cũng có sự cải thiện, tuy nhiên mức tăng không đáng kể. Trong khi KLGD bình quân phiên trong 1 tháng gần đây đã tăng gấp 3 lần mức độ giao dịch hồi đầu năm, từ 40.000 HĐ lên 130.000 HĐ/phiên, OI chỉ tăng nhẹ từ mức trung bình hơn 10.000 HĐ lên 14.000 HĐ trong tháng 7.

Bên cạnh đó, do giá trị một hợp đồng đã giảm đáng kể, tổng giá trị OI vẫn chỉ ở khoảng 1200 tỷ đồng, tăng nhẹ so với mức 1000 tỷ đồng trong những tháng đầu năm. Đây là tổng giá trị danh nghĩa của các hợp đồng tương lai đang giao dịch, giá trị thực tế của dòng vốn đầu tư vào thị trường nhỏ hơn do hiệu ứng đòn bẩy phái sinh.

Giá trị này không đáng kể so với lượng tài sản trên thị trường cơ sở và thực tế cũng tăng không nhiều khi thị trường cơ sở lao dốc. Do đó, không có đủ cơ sở để cho rằng thị trường phái sinh đã thu hút vốn từ thị trường chứng khoán cơ sở.

3.png


Điều Chỉnh Tỷ Lệ Ký Quỹ Ảnh Hưởng Như Thế Nào Đến Thị Trường Phái Sinh?

Từ ngày 18/7, tỷ lệ ký quỹ ban đầu được VSD nâng từ mức 10% lên 13% nhằm giảm thiểu rủi ro trên thị trường phái sinh. Việc nâng tỷ lệ ký quỹ ban đầu đồng nghĩa với việc cắt giảm tỷ lệ đòn bẩy đối với nhà đầu tư phái sinh. Tỷ lệ ký quỹ thực tế sau khi tính toán cộng thêm các ngưỡng sử dụng tài khoản cho phép và biên độ dao động giá sẽ cao hơn tỷ lệ ký quỹ thông báo. Với tỷ lệ ký quỹ 10% như trước đây, thì tỷ lệ ký quỹ thực tế tối thiểu các công ty chứng khoán có thể áp dụng là 12.5%, tương đương tỷ lệ đòn bẩy là 1:8. Với tỷ lệ ký quỹ mới áp dụng là 13%, tỷ lệ ký quỹ thực tế cũng phải nâng lên tương ứng trên 16% để đảm bảo cho các CTCK không vi phạm quy chế của VSD, tương đương tỷ lệ đòn bẩy giảm xuống 1:6.

Mặc dù tỷ lệ đòn bẩy giảm, các lợi thế về giao dịch T+0 và bán trước mua sau trong xu thế giá xuống vẫn là lợi thế quan trọng của các hợp đồng tương lai. Việc tăng tỷ lệ ký quỹ sẽ dẫn đến một số tài khoản bị gọi bổ sung ký quỹ. Tuy nhiên nhà đầu tư có thể lựa chọn bổ sung ký quỹ để duy trì số lượng hợp đồng đang nắm giữ, hoặc đóng bớt vị thế hợp đồng mà không cần phải bổ sung tiền. Do đó, quyết định nâng tỷ lệ ký quỹ có thể không tác động nhiều tới dòng tiền trên thị trường phái sinh cũng như thị trường cơ sở.

3. KHUYẾN NGHỊ ĐẦU TƯ


4.png


Biểu Đổ Biến Động Giá Của Các Ngành

NHÓM NGÀNH NGÂN HÀNG

Triển vọng NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức 17% trong năm 2018. Hệ số NIM của các NHTM tiếp tục cải thiện nhờ chi phí huy động giữ ở mức ổn định và chuyển hướng sang cho vay tiêu dùng. Tăng trưởng thu nhập lãi thuần trung bình của các NHTM được dự báo sẽ ở mức trên 20% trong năm nay.

Nhiều ngân hàng đã hoàn thành trích lập trái phiếu VAMC trong năm 2017 (ACB, MBB, VCB, CTG) và một số ngân hàng khác cũng sẽ hoàn thành việc trích lập trong năm nay và 2019 (BID, VIB, TPB, OCB). Bên cạnh đó, các khoản hoàn nhập cũng sẽ có đóng góp đáng kể cho khoản mục thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng.

Thu nhập từ phí tiếp tục tăng trưởng mạnh nhờ nguồn thu từ bancassurance. Nhiều NHTM trong thời gian vừa qua đã ký kết các hợp đồng đại lý độc quyền với các đối tác là các công ty bảo hiểm và nguồn thu từ phí bancassurance được kỳ vọng tăng trưởng 30 – 40% trong những năm tới.

Rủi ro

Tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng đầu năm đang chậm lại và NHNN cho thấy quan điểm thận trọng trong cho vay các lĩnh vực rủi ro cao như BĐS và cho vay tiêu dùng (để mua nhà).

Chu kỳ mới của nợ xấu đang dần xuất hiện và lần này có lẽ sẽ tập trung chủ yếu ở các khoản tín dụng tiêu dùng.

Các NHTM trong nước đang có mức định giá cao so với các ngân hàng trong khu vực. Mặc dù giá cổ phiếu ngân hàng đã giảm rất mạnh trong thời gian gần đây nhưng PB 2018F của nhóm này (khoảng 1.8x) vẫn cao hơn đáng kể so với mức bình quân của các ngân hàng trong khu vực là 1.3x.

ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu : giá 19/7 35.4 mục tiêu 41 upside 18%

Các khoản hoàn nhập dự phòng nợ xấu cũng là một động lực khác hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng trong năm nay và năm 2019. LNST năm 2018 của ACB ước tính tăng trưởng 125% YoY

5.png

6.png

7.png





ACB là một ngân hàng có tư duy thận trọng, điều này khiến cho ngân hàng chậm chân so với các đối thủ cùng ngành trong việc phát triển mảng tín dụng tiêu dùng. Tuy nhiên, sự thận trọng này có thể giúp cho ACB hạn chế được những rủi ro trong tương lai, nhất là khi một chu kỳ mới của nợ xấu đang dần xuất hiện.



MBB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội : giá 19/7 22.6 mục tiêu 33 upside 46%

MBB là một trong những ngân hàng tốt nhất trong hệ thống nhờ chất lượng tài sản và các chỉ số an toàn tài chính đều ở mức tốt, điều này giúp cho ngân hàng có điều kiện thuận lợi để tăng trưởng tín dụng cao hơn mức bình quân chung.

Triển vọng năm 2018 rất khả quan nhờ khả năng tăng trưởng tín dụng ở mức cao và tỷ số NIM được cải thiện mạnh trong năm 2018 sẽ thúc đẩy tăng trưởng thu nhập lãi thuần. Bên cạnh đó, thu nhập ngoài lãi cũng tăng trưởng tích cực nhờ lãi thuần từ hoạt động dịch vụ và thu hồi nợ xấu. LNST năm 2018 ước tính tăng trưởng 67% YoY.

8.png


9.png


10.png




MBB cũng là một trong những ngân hàng cần tăng vốn để đáp ứng tiêu chuẩn Basel II, mặc dù vậy, vấn đề này vẫn chưa cấp thiết đối với MBB. Ngân hàng đã khóa room ngoại ở mức 20%, và tương ứng còn lại 10% để phục vụ cho việc phát hành cho cổ đông chiến lược trong tương lai.

NHÓM NGÀNH DẦU KHÍ VÀ NĂNG LƯỢNG

Giá dầu phục hồi là động lực quan trọng đối với nhóm cổ phiếu ngành dầu khí, tuy nhiên đây mới chỉ là điều kiện cần. Thực tế trong chỉ mới có cổ phiếu GAS là thực sự hưởng lợi từ việc giá dầu hồi phục. Có khá nhiều các dự án lớn của ngành dầu khí đang được triển khai với tốc độ chậm hoặc phải tạm ưng do nhiều lý do khác nhau khiến cho các doanh nghiệp Up-stream của ngành như PVS, PVD, PXS, PVB… chịu ảnh hưởng tiêu cực.

POW Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam: giá 19/7 13 mục tiêu 20 upside 54%

Tăng trưởng lợi nhận trong nửa cuối năm 2018 dự báo tích cực nhờ tăng trưởng sản lượng điện ở tất cả các nhà máy điện và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng hoạt động ổn định hơn so với năm 2017.

Triển vọng tích cực ở các năm sau nhờ chi phí khấu hao của Nhà máy NĐ Cà Mau giảm đáng kể kể từ năm 2019. Các Nhà máy NĐ Vũng Áng và NT1 cũng sẽ tăng trưởng 4-7%/năm kể từ năm 2019, trong khi đó, tình trạng thiếu hụt điện đang trở nên nghiêm trọng là một yếu tố thúc đẩy giá điện trên thị trường điện cạnh tranh. LNST năm 2018 dự báo tăng trưởng 10% YoY nhưng năm tăng trưởng của 2019 có thể lên tới 50% YoY.

NHÓM NGÀNH TĂNG TRƯỞNG

HPG Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát : giá 19/7 37.2 mục tiêu 50 upside 34%

HPG là doanh nghiệp tốt nhất trong ngành thép với thương hiệu và hệ thống phân phối rộng khắp cả nước. Với dự án Khu liên hợp Dung Quốc, HPG đang hoàn thiện chuỗi giá trị trong ngành thép của mình và củng cố vị trí số một trên thị trường.

11.png


12.png


13.png




Triển vọng tăng trưởng lợi nhuận trong năm nay và năm 2019 tích cực nhờ nhà máy tôn mạ và dây chuyền cán của GĐ 1 Khu liên hợp Dung Quất đi vào hoạt động, hoàn thành việc bàn giao dự án Madarin Garden 2.

Các sản phẩm mới của Khu liên hợp Dung Quất như thép cuộn cán nóng và thép dây cuộn chất lượng cao sẽ giúp thay thế hàng nhập khẩu. Nhà máy cán thép mới cộng với vị trí thuận lợi của dự án sẽ giúp HPG thâm nhập thị trường phía Nam.

PNJ Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận: giá 19/7 94 mục tiêu 120 upside 28%

Là doanh nghiệp có thị phần lớn nhất trong mảng trang sức có thương hiệu, PNJ trong những năm gần đây đã liên tục mở rộng chuỗi cửa hàng của mình và hiện tại số lượng cửa hàng đã đạt con số 300. Tăng trưởng doanh thu của các cửa hàng đạt mức 25% trong quý vừa rồi.

Triển vọng tăng trưởng của PNJ rất khả quan nhờ dư địa để PNJ mở rộng vẫn rất lớn do thị trường vàng trang sức có thương hiệu đang có sự phân mảnh. Bên cạnh đó, thu nhập của người dân tăng lên cộng với mức độ tiếp cận tín dụng của người dân đã cao hơn nhiều so với trước đây khiến cho nhu cầu mua sắm vì vậy mà tăng lên. LNST năm 2018 của PNJ ước tính tăng trưởng 35% YoY.

14.png


15.png

16.png



PNJ giảm rất mạnh trong thời gian gần đây do những thông tin liên quan tới Đông Á Bank, tuy nhiên em cho rằng thông tin này không ảnh hưởng tới hoạt động của PNJ.
 

Bình luận bằng Facebook

Top